Phân biệt ly hôn và hủy kết hôn trái pháp luật

0
129
làm thế nào để hôn nhân không là
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật hôn nhân và gia đình, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198
Rate this post

Ly hôn và hủy kết hôn trái pháp luật tuy đều dẫn đến việc chấm dứt mối quan hệ hôn nhân. Tuy nhiên trên thực tế không phải ai cũng có thể phân biệt được ly hôn và hủy kết hôn trái pháp luật khác nhau như thế nào. Trong bài viết này Everest sẽ giúp các bạn đọc phân biệt hai vấn đề này.

ly hôn và hủy kết hôn trái pháp luật
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật hôn nhân và gia đình, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Ly hôn là gì?

Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. trong các trường hợp như ly hôn theo yêu cầu của một bên hay hai bên đều đồng ý thuận tình ly hôn.

Có hai hình thức văn bản được Tòa án áp dụng đối với hai trường hợp xin ly hôn khác nhau. Nếu vợ chồng có tranh chấp, Tòa án xét xử và phán ly hôn dưới hình thức bản án. Còn nếu hai vợ chồng thuận tình ly hôn thì Tòa án sẽ ra quyết định được gọi là quyết định thuận tình ly hôn.

Hủy kết hôn trái pháp luật

Hủy kết hôn trái pháp luật là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng khi nam, nữ đã đăng ký kết hôn nhưng một bên hoặc hai bên đã vi phạm điều kiện đăng kí kết hôn tại Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Đó có thể là việc vi phạm một trong số những điều kiện phải đáp ứng như đủ độ tuổi được phép kết hôn, có sự tự nguyện từ cả hai bên nam nữ, đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nam, nữ hoặc cả nam và nữ không bị cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn,…

Để biết thêm thông tin về hủy kết hôn trái pháp luật, tham khảo  tại đây

Phân biệt ly hôn và hủy kết hôn trái pháp luật

Để hiểu rõ hơn giúp phân biệt chính xác vấn đề ly hôn và vấn đề hủy kết hôn trái pháp luật, có thể dựa vào những tiêu chí nổi bật sau đây:

Tiêu chí phân biệt Ly hôn Hủy kết hôn trái pháp luật
Khái niệm  Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. (khoản 14 Điều 3 LHN&GĐ 2014) Hủy việc kết hôn trái pháp luật là biện pháp do Tòa án thực hiện khi có yêu cầu từ người có quyền nhằm làm cho việc kết hôn trái pháp luật không còn tồn tại, mà kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật HN&GĐ 2014 (khoản 6 Điều 3 Luật này)
Các trường hợp chấm dứt quan hệ hôn nhân
  • Thuận tình ly hôn: trường hợp này xảy ra khi cả hai vợ chồng đều yêu cầu ly hôn, nếu đã có thỏa thuận về phân chia tài sản, trông nom và nuôi dưỡng con,… thì Tòa án công nhận ly hôn; nếu chưa có thỏa thuận hoặc đã có thỏa thuận nhưng không đảm bảo quyền lợi cho vợ và con thì Tòa án sẽ giải quyết việc ly hôn này.
  •  Ly hôn đơn phương: chỉ có một bên vợ hoặc chồng yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, khi đó xảy ra một trong hai trường hợp sau: một, hai người đã thực hiện thủ tục hòa giải tại Tòa án mà không thành thì Tòa án giải quyết ly hôn theo yêu cầu của một bên nếu có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật (khoản 1 Điều 56 LHN&GĐ 2014); hai,  vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn.
Một bên hoặc hai bên không đáp ứng đủ một trong các điều kiện khi kết hôn sau:

  • Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
  • Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
  • Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
  • Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này. (bao gồm:kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo; Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;…)
  • Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.
Người có quyền yêu cầu Chính những người kết hôn, đó là vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

  • Gia đình của hai bên như cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
  • Một điểm cần lưu ý là người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

 

Theo Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành, những người sau có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật:

  • Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền tự mình yêu cầu hoặc đề nghị cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 của Luật.
  • Cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại các điểm a, c và d khoản 1 Điều 8 của Luật này, bao gồm: Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật; Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;….
  • Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện việc kết hôn trái pháp luật thì có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.
Hậu quả pháp lý Điều 57 LHN&GĐ quy định như sau:

  • Quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng chấm dứt kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
  • Bản án, quyết định ly hôn đã có hiệu lực pháp luật sẽ được Tòa án gửi cho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn để ghi vào sổ hộ tịch; hai bên ly hôn; cá nhân, cơ quan, tổ chức khác theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các luật khác có liên quan.
Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì

  • Hai bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng (do vi phạm từ khi đăng kí kết hôn nên quan hệ hôn nhân đó không được coi là quan hệ vợ chồng mà chỉ là giống như quan hệ vợ chồng).
  • Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn nhằm đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của người con.
  • Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật HN&GĐ.

Như vậy, qua bốn tiêu chí trên bạn đọc đã có thể phân biệt được việc ly hôn và hủy kết hôn trái pháp luật khác nhau như thế nào, dù đều chấm dứt một mối quan hệ nhưng ly hôn là sự chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng hợp pháp, còn hủy kết hôn nhằm mục đích khắc phục sự vi phạm trong điều kiện kết hôn đến từ nam, nữ hoặc cả nam và nữ.

Xem thêm các nội dung liên quan tại Luật hôn nhân và gia đình

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here