Kết hôn cận huyết (hôn nhân cận huyết thống) có vi phạm pháp luật?

0
111
Bài viết được thực hiện bởi: Chuyên viên Huỳnh Thu Hương – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198
Rate this post

Hiện nay tình trạng kết hôn cận huyết dù không còn phổ biến như trước đây nhưng pháp luật cần có quy định và điều chỉnh cụ thể đối với vấn đề quan trọng này. Vậy kết hôn cận huyết là gì? Nguyên nhân và thực trạng kết hôn cận huyết hiện nay như thế nào? Hậu quả ra sao và có chế tài nào để xử lý hôn nhân cận huyết không?

Kết hôn cận huyết (hôn nhân cận huyết thống)
Bài viết được thực hiện bởi: Chuyên viên Huỳnh Thu Hương – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

Kết hôn cận huyết là gì?

Kết hôn cận huyết là kết hôn giữa nam và nữ trong cùng họ hàng gần gũi với nhau chưa quá ba thế hệ. Hay nói cách khác kết hôn cận huyết thống là hôn nhân giữa những người có cùng dòng máu trực hệ.

Theo quy định của Luật hôn nhân gia đình về các trường hợp cấm kết hôn thì có thể hiểu hôn nhân cận huyết thống là việc kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

Khoản 17 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Những người cùng dòng máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết thống, trong đó, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau.”

Khoản 18 điều 3 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba.”

Nguyên nhân kết hôn cận huyết

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng kết hôn cận huyết có rất nhiều, có thể nói đến một số nguyên nhân chính như sau:

(i) Kết hôn cận huyết thường diễn ra ở nhưng vùng khó khăn, trình độ dân trí thấp. Nhận thức, hiểu biết của người dân còn lạc hậu, nên họ chưa nhận thức được những hệ quả khôn lường của việc kết hôn cùng huyết thống.

(ii) Tại những vùng có kinh tế khó khăn cũng thường xảy ra kết hôn cận huyết, tảo hôn. Do thiếu công ăn việc làm, hoạt động kinh tế chủ yếu là nương rẫy nên có nhiều thời gian nhàn rỗi dẫn đến yêu đương và kết hôn

(iii) Những nơi đặc biệt thường phổ biến kết hôn cùng huyết thống là các vùng miền núi, miền kinh tế xã hội khó khăn, nghèo nàn. Người dân nơi đây còn có nhiều tập tục và suy nghĩ lạc hậu. Trong đó kết hôn do sự sắp xếp của gia đình hai bên gần gũi cũng là tập tục lạc hậu.

(iv) Do quan niệm của những người dân cho rằng lấy nhau với những người trong họ hàng thì gần gũi và dễ yêu thương nhau hơn, tránh đỗ vỡ trong hôn nhân vì ngại quan hệ họ hàng với nhau. Thêm nữa họ cũng có suy nghĩ nếu lấy cùng họ hàng thì của cải, ruộng đất không bị phân chia cho họ hàng người khác

(v) Do sự nới lỏng pháp luật và các chế tài xử phạt vi phạm hôn nhân cận huyết thống chưa đủ mạnh mẽ, quyết liệt để ngăn ngừa, răn đe tình trạng hôn nhân cận huyết thống. Công tác tuyên truyền vận động người dân về vấn nạn hôn nhân cận huyết thống tiến hành không thường xuyên và thiếu hiệu quả.

Thực trạng kết hôn cận huyết

Cùng với sự phát triển kinh tế và xã hội, nhận thức dân trí cũng được nâng cao nên nhìn chung tình trạng kết hôn cận huyết thống hiện nay đang có xu hướng giảm. Những nơi còn xảy ra tình trạng kết hôn cận huyết thống chủ yếu là vùng có kinh tế xã hội khó khăn và vùng dân tộc thiểu số.

Tỷ lệ kết hôn cận huyết thống (kết hôn trái pháp luật) theo điều tra thực trạng xã hội của 53 dân tộc thiểu số là 0,65%, trong đó các dân tộc thiểu số có tỷ lệ kết hôn cận huyết thống cao gồm: Mạ 4,41%, Mảng 4.36%. Mnông 4,02%, Xtiêng 3,67%,… các trường hợp kết hôn cận huyết thống xảy ra chủ yếu ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Một số dân tộc như Lô Lô, Hà Nhì, Phù Lá, Chứt, Ê Đê, Chu Ru, Si La, Pu Péo, Mông, Rơ Măm, Brâu … có tỷ lệ hôn nhân cận huyết thống khá cao, lên đến 10%, tức là cứ 100 trường hợp kết hôn thì có 10 trường hợp hôn nhân cận huyết thống. Trong đó, phổ biến là kết hôn giữa con cô với con cậu, con dì với con chú bác.

Hậu quả của kết hôn cận huyết

Thứ nhất, đối với sức khỏe: hôn nhân cận huyết thống thường đi liền với nạn tảo hôn. Điều đó làm ảnh hưởng tới sức khỏe của những người thực hiện hành vi trên, đặc biệt là bà mẹ và em bé. Những đứa trẻ được sinh ra từ bố mẹ có hành vi hôn nhân cận huyết thống có khả năng cao mắc các bệnh như:

(i) Bệnh hồng cầu liềm, rối loạn đông máu, thiếu máu, bệnh tan máu bẩm sinh,

(ii) Các bệnh dị dạng về xương, bụng phình to, nguy cơ tử vong rất cao

(iii) Thiểu năng trí tuệ, lùn, ốm yếu và nhiều dị dạng khác và những bệnh lý này làm cho thai chết non, trẻ chết sớm hoặc không thể chữa dứt được.

(iv) Sinh ra con dị dạng hoặc bệnh di truyền như mù màu, bạch tạng, da vảy cá mở đầu cho cuộc sống tàn phế suốt đời Bệnh lại di truyền tiếp cho thế hệ sau làm cho suy thoái giống nòi dần.

Đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho dân số của đồng bào thiểu số chậm phát triển.

Thứ hai, đối với văn hóa – xã hội: hôn nhân cận huyết thống cũng đồng nghĩa với việc hai bên nam nữ ít có cơ hội tìm hiểu nhau trước khi kết hôn và hầu như không phải do tự nguyện. Điều đó có thể là nguyên nhân của vấn đề bạo lực gia đình sau này. Ngoài ra, nếu hôn nhân cận huyết và tảo hôn diễn ra liên tục qua các thế hệ sẽ khiến việc tiếp cận với văn hóa tiến bộ và nền giáo dục trở nên ít đi. Người dân ở đây sẽ sống lâu dài với những hủ tục lạc hậu.

Thứ ba, đối với kinh tế: việc canh tác theo tập quán và thói quen khiến không đem lại giá trị kinh tế cao. Đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu chỉ trồng lúa, trồng ngô và một số loại cây ngắn ngày khác. Việc không thay đổi ngành nghề sản xuất khiến nền kinh tế thuần nông lạc hậu được duy trì.

Thứ tư, hôn nhân cận huyết thống ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dân số, suy giảm giống nòi, ảnh hưởng đến nguồn nhân lực của đất nước. Cùng với đó sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế – xã hội đất nước

Chế tài xử lý kết hôn cận huyết thống

Kết hôn cận huyết tác động tiêu cực đến nền kinh tế và xã hội cho nên pháp luật đã quy định cấm hành vi này và đưa ra những chế tào xử phạt đối với những đối tượng thực hiện.

Tại điểm d, khoản 2, điều 5 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc cấm thực hiện hành vi kết hôn cận huyết thống:

“Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;”.

Để đảm bảo việc thi hành các quy định trên, nhà nước đã đưa ra các chế tài đối với các trường hợp vi phạm, cụ thể:

Xử phạt hành chính hành vi Hôn nhân cận huyết: tại điều 48 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ và khoản 35 Điều 1 Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015:

“Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người có cùng dòng máu về trực hệ.”.

Xử lý hình sự đối với vi phạm kết hôn cận huyết:

Đối với hôn nhân cận huyết thống, tại điều 185 Bộ luật Hình sự năm 2015 có quy định về tội loạn luân. Theo đó, người nào giao cấu với người mà biết rõ người đó cùng dòng máu về trực hệ, là anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Trong trường hợp có vi phạm Hôn nhân cận huyết thì sẽ được xem là không đủ điều kiện kết hôn theo như quy định tại Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Các cơ quan, cá nhân sau sẽ có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.

  • Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật;
  • Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
  • Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
  • Hội liên hiệp phụ nữ.

Sau khi nhận được hồ sơ yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật do hành vi Kết hôn giữa những người cùng huyết thống, tòa án có thẩm quyền sẽ tiến hành xem xét, xử lý theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quan thêm quy định về độ tuổi kết hôn Tại đây

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật. Hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here