Chia tài sản khi ly hôn cho con

0
124
mau-don-xin-nhan-con-nuoi-moi-nhat
Rate this post

Chia tài sản khi ly hôn cho con được thực hiện như thế nào? Thủ tục cũng như những điều cần biết khi chia tài sản cho con dưới 18 tuổi ra sao? Bài viết này sẽ giúp bạn làm rõ vấn đề này.

Chia tài sản cho con
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật hôn nhân và gia đình, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

khi ly hôn con có được chia tài sản không?

Nguyên tắc phân chia tài sản

Theo quy định tại Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016 ngày 06/01/2016, vợ chồng khi ly hôn có quyền tự thỏa thuận với nhau về toàn bộ các vấn đề liên quan trong đó có việc phân chia tài sản. Nếu không thỏa thuận được thì sẽ gửi yêu cầu nhờ Tòa án xem xét, quyết định.

Trong đó, nếu vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn thì tài sản của vợ chồng được chia theo nguyên tắc:

(i) Không xác định được tài sản riêng của các thành viên trong gia đình thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ công sức đóng góp vào việc tạo lập, duy trì, phát triển;

(ii) Nếu có thể xác định được thì khi ly hôn, tách phần tài sản chung của vợ chồng ra khỏi khối tài sản chung của gia đình để chia theo nguyên tắc chia đôi đã nêu ở trên.

Như vậy, việc phân chia tài sản chung vợ chồng khi ly hôn chỉ phân chia phần tài sản của riêng vợ chồng mà không liên quan đến con cái.

Dù vậy, sau khi cha mẹ ly hôn, con cái con cái có được chia tài sản khi ly hôn từ cha mẹ:

(i) Sau khi ly hôn và phân chia tài sản chung vợ chồng, cha mẹ tặng cho một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình cho con;

(ii) Khi cha mẹ chết, người con sẽ thuộc hàng thừa kế thứ nhất và được hưởng phần di sản mà cha mẹ để lại. Lúc này, tài sản đã được chia sau khi ly hôn cũng là một trong những di sản cha mẹ để lại.

Chia tài sản cho con dưới 18 tuổi khi ly hôn ra sao?

Con cái chỉ được “chia tài sản” khi nào?

Căn cứ theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về chia tài sản của vợ chồng sau khi ly hôn những tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân về nguyên tắc được xem là tài sản chung của hai vợ chồng trừ trường hợp chứng minh được là tài sản được tặng cho riêng, thừa kế riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng, những tài sản này gắn liền với nhân thân của hai vợ chồng.

Chính vì vậy, tất cả những tài sản do vợ chồng tạo lập được trong thời kỳ hôn nhân được xem là tài sản của hai vợ chồng, các con không có quyền được chia tài sản sau khi bố mẹ ly hôn. Con cái chỉ được “chia tài sản” khi thuộc một trong các trường hợp sau:

(i) Bố mẹ thỏa thuận tặng cho con cái một phần hoặc toàn bộ tài sản khi ly hôn;

(ii) Đất đai là tài sản chung của hộ gia đình (thành viên trong hộ gia đình tại thời điểm được nhà nước giao đất cũng bao gồm cả các con).

Xem thêm: Chia tài sản khi ly hôn

Việc phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn:

Căn cứ quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, theo đó, việc phân chia tài sản của hai vợ chồng sau khi ly hôn được thực hiện như sau:

(i) Trường hợp thứ nhất, hai vợ chồng tự thỏa thuận được với nhau về việc phân chia tài sản thì hai vợ chồng sẽ yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận của các bên, hai bên thỏa thuận như thế nào thì Tòa án sẽ công nhận thỏa thuận đó nhưng có căn cứ dựa trên việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

(ii) Trường hợp thứ hai, vợ chồng không thỏa thuận được với nhau về vấn đề chia tài sản sau khi ly hôn. Về tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây để xác định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia, cụ thể:

Yếu tố xác định xác định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia tài sản cho con.

(i) Một là, căn cứ vào hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng, cụ thể là tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng.

(ii) Hai là, căn cứ vào công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung, cụ thể là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn.

(iii) Ba là, bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập. Việc chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục được sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch.

Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự.

Ví dụ: Vợ chồng bạn có tài sản chung là một chiếc ô tô người chồng đang chạy xe tải và một cửa hàng tạp hóa người vợ đang kinh doanh tại căn nhà chung của gia đình. Khi giải quyết ly hôn và chia tài sản chung, Tòa án phải xem xét giao cửa hàng tạp hóa cho người vợ, giao xe ô tô cho người chồng để họ tiếp tục kinh doanh, tạo thu nhập. Người nào nhận được phần giá trị tài sản lớn hơn phải thanh toán cho người người còn lại phần giá trị chênh lệch đó.

(iv) Bốn là, lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng dẫn đến ly hôn. Ví dụ: Trường hợp người chồng/vợ có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy, ngoại tình rất nhiều lần,…

Như vậy, tùy vào trường hợp hai vợ chồng bạn có thỏa thuận được việc phân chia tài sản hay không thì Tòa án sẽ căn cứ vào yêu cầu của hai vợ chồng bạn để chia tài sản cho hai vợ chồng bạn căn cứ vào quy định của pháp luật.

Xem thêm nội dung liên quan: Luật hôn nhân

Chia tài sản khi ly hôn – Cuộc chiến không hồi kết

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here