Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng theo quy định mới nhất

0
231
PHÒNG KHÁM NHI
Chuyên viên Nguyễn Thị Ngân – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198
Rate this post

Hôn nhân một vợ một chồng là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất trong chế định hôn nhân và để đảm bảo nguyên tắc này không bị vi phạm, pháp luật Việt Nam đặt ra những quy định về hành vi vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng. Vậy, tội vi phạm chế độ một vợ một chồng được quy định như thế nào?

chế độ một vợ một chồng
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật hôn nhân và gia đình, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Chế độ một vợ một chồng là gì?

Hôn nhân là dựa trên cơ sở tình yêu một nam một nữ khi họ mong muốn được về chung sống với nhau và tạo thành một gia đình. Theo đó, chế độ một vơ một chồng đảm bảo được tình yêu giữa họ có thể bền vững và duy trì hạnh phúc về sau cho một gia đình. Hôn nhân một vợ một chồng là điều vô cùng quan trọng trong cuộc sống lâu dài.

Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng có nghĩa trong thời kỳ hôn nhân chỉ tồn tại một quan hệ hôn nhân hợp pháp và là quan hệ hôn nhân duy nhất. 

Chế độ một vợ một chồng là một trong những nguyên cơ bản của hôn nhân. Hôn nhân được tiến bộ, tự nguyên và bình đẳng giữa vợ và chồng, thì chế độ một vợ một chồng là nguyên tắc được áp dụng. Theo đó, hôn nhân một vợ một chồng là hôn nhân được xác lập khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện của Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Việc xác lập này được thực hiện giữa một người vợ với một người chồng và trong thời kỳ hôn nhân cũng vậy.

Nội dung nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng

Luật Hôn nhân và gia đinh 2014 quy định “Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình” tại Điều 2:

“Điều 2. Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình

1. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.

2. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

3. Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con.

4. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình.

5. Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình.”

Những nguyên tắc của chế độ hôn nhân và gia đình được kế thừa và được thực hiện từ khi có Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 và được sửa đổi bổ sung tới nay để hoàn thiện hơn. Những nguyên tắc này nhằm bảo vệ quan hệ hôn nhân và gia đình và phù hợp với sự phát triển của xã hội. 

Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng cũng được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014

Một là, hôn nhân là tự nguyện, tự do, tiến bộ và dựa trên cơ sở tình yêu của hai người với nhau

Hai là, hôn nhân một vợ một chồng trong đó vợ chồng phải bình đẳng với nhau và phù hợp với quy luật tự nhiên, phát triển tâm lý của con người và đạo đức xã hội

Ba là, hôn nhân một vợ một chồng là cơ sở để xây dựng hạnh phúc gia đình

Xem thêm bài viết vi phạm chế độ một vợ một chồng: Phát hiện vợ, chồng ngoại tình, có nên ly hôn không?

Các yếu tố cấu thành tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng

Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng cần đầy đủ các yếu tố cần và đủ: năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi. Ngoài ra, chủ thể của tội phạm này cần thêm yếu tố “người phạm tội phải là người đang có vợ hoặc chồng hoặc một trong hai người phải là người đang có vợ hoặc chồng”.

Độ tuổi của chủ thể tội phạm này là những người ở độ tuổi đủ 16 tuổi trở lên. 

Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội đã nhận thức rõ được hành vi của mình, biết được họ đã vợ hoặc chồng nhưng vẫn kết hôn và chung sống như vợ chồng với người khác là hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng. Hành vi này là hành vi cố ý, do đã thấy trước được hậu quả nghiêm trọng xảy ra hoặc có thể xảy ra nhưng vẫn muốn hậu quả đó tới .

Đối với tội vi phạm chế độ một vợ một chồng thì người phạm tội thường không quan tâm tới hậu quả, vì mục đích của họ là được sống chung với người khác.

Mặt khách quan của tội phạm

Người phạm tội này có những hành vi sau:

Một là, Đang có vợ hoặc có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác.

Hai là, Người đang có vợ hoặc có chồng là người đã kết hôn và chưa chấm dứt quan hệ hôn nhân.
Ba là, Có hành vi gian dối với cơ quan Nhà nước để được đăng ký kết hôn hay tổ chức đám cưới.

Khách thể của tội phạm

Vi phạm nghiêm trọng chế độ một vợ một chồng – nguyên tắc cơ bản của chế hộ hôn nhân và gia đình; xâm hại tới mối quan hệ gia đình, hôn nhân mà một vợ một chồng đã xây dựng

toi-vi-pham-che-do-mot-vo-mot-chong-theo-quy-dinh
Chuyên viên Nguyễn Thị Ngân – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

Xử phạt tội vi phạm chế độ một vợ một chồng

Tùy vào mức độ vi phạm mà cơ quan có thẩm quyền xử phạt. 

Về xử lý hành chính được quy định tại Điều 48 Nghị định 110/2013/ NĐ – CP như sau:

“Điều 48. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;”

Vi phạm chế độ một vợ một chồng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự 2015 quy tại Điều 182  nếu thuộc các trường hợp như sau:

“Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;
b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;
b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.”
Việc chung sống như vợ chồng hay kết hôn giữa người có vợ hoặc chồng với người chưa vợ hoặc chồng đều được coi là hành vi vi phạm nếu biết được người mình đang sống cùng đã có vợ hoặc chồng nhưng vẫn cố ý sống cùng. Việc này đã vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng và đã làm ảnh hưởng hay phá vỡ cuộc sống hạnh phúc của cặp vợ chồng.
Xem thêm các bài viết: Luật hôn nhân

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật. Hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here