Bình đẳng giới và những điều bạn cần biết

0
2
bình đẳng giới
Để được tư vấn một cách nhanh chóng về lĩnh vực pháp luật , vui lòng liên hệ Tổng đài (24/7): 1900 6198
Rate this post

Bình đẳng giới là mục tiêu phấn đấu chung trong những hoạt động của tổ chức Liên hợp quốc. Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước cũng dành sự quan tâm đặc biệt đối với vấn đề này. Nhà nước ta đã thực hiện hóa bình đẳng giới bằng đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, và thực hiện bằng nhiều dự án khác nhằm thúc đẩy quá trình để cho phụ nữ có quyền từng bước xóa đi rào cản, sự phân biệt nam nữ trong đời sống xã hội.

Bình đẳng giới
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật hôn nhân và gia đình, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Bình đẳng giới được hiểu như thế nào?

Theo Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006 quy định: “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”

Nam và nữ đều được tiếp cận với giáo dục, điều kiện chăm sóc sức khỏe, đào tạo nghề, tạo việc làm, tạo ra thu nhập, tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội…; là không còn sự phân biệt đối xử giới tính, nam giới và phụ nữ cũng có địa vị bình đẳng trong xã hội. Bình đẳng giới không phải là nam giới và phụ nữ hoàn toàn như nhau mà là thừa nhận và tôn trọng các điểm tương đồng và khác biệt giữa hai phái.

Tìm hiểu thêm: Bất bình đẳng giới

Các quy định của pháp luật về bình đẳng giới

Mỗi lĩnh vực nhất định sẽ có pháp luật chuyên ngành điều chỉnh và quy định. Tuy nhiên, Bình đẳng giới không phải là lĩnh vực mà là một nội dung bao hàm và lồng ghép trong các lĩnh vực khác nhau. Vì vậy pháp luật về Bình đẳng giới nghĩa là bao hàm tất cả các quy định pháp luật nhằm đảm bảo bình đẳng giữa nam và nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.

(i) Hiến pháp năm 2013, các Điều 16, 26, 36 quy định về bình đẳng trước pháp luật, không bị phân biệt đối xử trong mọi lĩnh vực. Nam, nữ có quyền công dân bình đẳng, hôn nhân bình đẳng. Nhà nước bảo hộ quyền lợi bà mẹ trẻ em và nghiêm cấm phân biết đối xử về giới.

(ii) Luật Bình đẳng giới: được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006 và có hiệu lực ngày 01/07/2007. Với mục tiêu xóa bỏ phân biệt đối xử vè giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế – xã hội, phát triển nguồn nhân lực. Luật đã tạo ra khuôn khổ pháp lý tương đối đầy đủ về vấn đề bình đẳng giới cụ thể nằm trong các điều luật sau:

  • Điều 6. Các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới
  • Điều 11. Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị
  • Điều 19. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới
  • Điều 21. Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong văn bản quy phạm pháp luật

(iii) Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định trong các nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật là bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới. Quy định lồng ghép vấn đề bình đẳng giữa nam và nữ trong toàn bộ quy trình xây dựng văn bản vi phạm pháp luật bằng các quy định cụ thể về trách nhiệm , nội dung, thủ tục, hồ sơ và được bắt đầu ngay từ khi lập đề nghị Chương trình xây dụng luật, pháp lệnh.

(iv) Luật chuyên ngành: Mỗi lĩnh vực chuyên ngành sẽ thông qua việc thực hiện quy định lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong quá trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật. Cụ thể trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, lao động, y tế, giáo dục và đào tạo, và trong lĩnh vực hôn nhân gia đình đều có những văn bản, điều luật nhằm đảm bảo thực hiện bình đằng giới.

(v) Điều ước quốc tế: Việt Nam là thành viên tích cực trong việc thực hiện cam kết quốc tế về nhân quyền, trong đó điễn hình Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ

Bình đẳng giới
Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật hôn nhân và gia đình, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Tại sao cần có bình đẳng giới?

Thực trạng bình đẳng giới trong xã hội hiện nay

Bình đẳng giới phải được hiểu là sự đối xử công bằng giữa nam và nữ về mặt luật pháp cũng như vị thế xã hội. Ở Việt Nam những thành tựu trong công tác bình đẳng giữa nam và nữ là không thể phủ nhận. Tuy nhiên thực trạng cũng còn nhiều vấn đề đang tồn tại

(i) Về kinh tế: Cùng một vị trí công việc nhưng chênh lệch thu nhập giữa nam và nữ vẫn còn tồn tại, cơ hội để tiếp cận những việc làm có thu nhập cao của phụ nữ vẫn thấp hơn nam giới, lao động nam được đánh giá cao hơn lao động nữ. Đặc biệt, thu nhập bình quân của nữ luôn thấp hơn nam giới

(ii) Về chính trị – xã hội: Tỷ lệ nữ giới làm công tác quản lý, lãnh đạo tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn thấp so với các vị trí quản lý, lãnh đạo nói chung, so với sự gia tăng của lực lượng lao động nữ nói riêng.

(iii) Trong gia đình: Người làm những công việc nội trợ chủ đạo vẫn là phụ nữ, vẫn còn tư tưởng trọng nam khinh nữ. Ngoài ra phụ nữ còn gặp những vần đề như bạo lực gia đình, xâm hại tình dục, bóc lột lao động và nạn nhân buôn bán người.

Ý nghĩa của bình đẳng giới là gì?

Có ý nghĩa nhằm xóa bỏ phân biệt đối xử về giới; tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển bản thân, kinh tế và xã hội. Tiến tới bình đẳng thực chất giữa nam, nữ đồng thời thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam và nữ trong mọi lĩnh vực cuộc sống.

Bình đẳng giới không chỉ là đề giải phóng phụ nữ mà còn là giải phóng đàn ông. Khi tư tưởng trọng nam kinh nữ, đề cap cam giới và hạ thấp nữ giới thì không chỉ có nữ giới bị ảnh hưởng mà nam giới cũng không tránh khỏi ảnh hưởng theo. Ví dụ, quan niệm nam giới phải mạnh mẽ, chủ động, không được thể hiện cảm xúc yếu đuối là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc tỉ lệ tự tử ở nam cao gấp ba nữ giới, tuổi thọ cũng ngắn hơn. Rất nhiều nam giới bị trầm cảm, rối loạn tâm lý nhưng khôn dám đi khám hày tìm đến sự giúp đỡ vì lo ngại sẽ bị dị nghị là yếu đuối hay thiếu nam tính. Chưa kể, nam giới có muốn theo đuổi các ngành nghệ thuật thì sẽ bị dị nghị. đàm tiếu.

Làm thế nào để duy trì được sự bình đẳng giới?

Những ứng xử, những khát vọng và những nhu cầu khác nhau của phụ nữ và nam giới đều được cân nhắc, đánh giá và ủng hộ như nhau; không có nghĩa phụ nữ và nam giới phải trở thành như nhau, nhưng các quyền, trách nhiệm và các cơ hội của họ sẽ không phụ thuộc vào họ sinh ra là nam giới hay phụ nữ. Bình đẳng giới bao hàm: bình đẳng về quyền; bình đẳng về tiếp cận và kiểm soát nguồn lực; bình đẳng về sự tham gia và ra quyết định; bình đẳng về thụ hưởng những thành quả và lợi ích. Những giải pháp nhằm để duy trì được sự bình đẳng giới bao gồm:

(i) Thứ nhất, nâng cao nhận thức về Bình đẳng giới trong chính sách, pháp luật ở Việt Nam.

(ii) Thứ hai, thúc đẩy lồng ghép Bình đẳng giới trong xây dựng chính sách, pháp luật.

(iii) Thứ ba, thúc đẩy thực thi chính sách, pháp luật về Bình đăng giới của mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội.

(iv) Thứ tư, thúc đẩy việc đôn đốc, theo dõi thi hành chính sách, pháp luật về Bình đẳng giới của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

(v) Thứ năm, thúc đẩy xóa bỏ các phong tục, tập quán lạc hậu cản trở việc thực hiện chính sách, pháp luật về Bình đẳng giới.

(vi) Thứ sáu, khôi phục các hương ước tiến bộ, phù hợp có tác dụng thúc đẩy thực hiện Bình đẳng giới trong chính sách, pháp luật.

Xem các nội dung tương tự tại Luật Hôn nhân và Gia đình

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here