Vợ chồng có được chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không?

Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hỏi: Tôi và chồng tôi sống không hạnh phúc, tuy nhiên vì con cái nên chúng tôi không có ý định ly hôn. Chồng tôi ngoại tình, tôi sợ chồng tôi sẽ mang tiền đi cho bồ. Giờ tôi không ly hôn nhưng chia tài sản của hai vợ chồng có được không? (Hương Nhu - Thái Bình)
 Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Nguyễn Thị Yến - Tổ tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình của Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Khoản 1 điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: "Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo đó, trừ các trường hợp chia tài sản chung bị vô hiệu quy định tại điều 42 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, pháp luật cho phép vợ chồng được chia khối tài sản chung trong thời kì hôn nhân. :

"1. Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

2. Nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ sau đây:

a) Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng;

b) Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại;

c) Nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản;

d) Nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức;

đ) Nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước;

e) Nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.”

Như vậy, chị và chồng chị có thể thỏa thuận về việc chia tài sản chung, thỏa thuận phải được lập thành văn bản. Nếu hai vợ chồng thỏa thuận về việc công chứng hoặc pháp luật quy định bắt buộc phải công chứng (Đối với tài sản là quyền sử dụng đất,..) thì văn bản sẽ được công chứng và có hiệu lực kể từ ngày được công chứng.

Trong trường hợp không thỏa thuận được, chị có thể gửi đơn lên tòa án yêu cầu chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân. Theo đó tòa án sẽ dựa trên nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn giải quyết việc chia tài sản trong thời kì hôn nhân của chị.

Theo quy định tại điều 39 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân như sau:

"1. Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng là thời điểm do vợ chồng thỏa thuận và được ghi trong văn bản; nếu trong văn bản không xác định thời điểm có hiệu lực thì thời điểm có hiệu lực được tính từ ngày lập văn bản.

2. Trong trường hợp tài sản được chia mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực từ thời điểm việc thỏa thuận tuân thủ hình thức mà pháp luật quy định.

3. Trong trường hợp Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng thì việc chia tài sản chung có hiệu lực kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

4. Quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.”

Như vậy theo quy định của pháp luật, vợ chồng có quyền chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân. Việc chia tài sản chung không là ảnh hưởng đến các nghĩa vụ tài sản đã được xác lập trước đó với người thứ ba.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: info@everest.net.vn.
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.