Tài sản chung của vợ chồng được pháp luật quy định thế nào?

Kèm theo yêu cầu xin ly hôn, vợ chồng thường có yêu cầu Tòa án phân chia tài sản khi ly hôn, tài sản của vợ chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng. Trong trường hợp không chứng minh được tài sản riêng thì đương nhiên đó là tài sản chung của vợ chồng.

Xem thêm ...

Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

. Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

Tài sản có trước thời kỳ hôn nhân, nếu người sở hữu quyết định góp vào tài sản chung thì sẽ được tính là tài sản chung của vợ chồng. Khi chia tài sản, ngoài nguyên tắc chia đôi, Tòa án còn xem xét đến các yếu tố khác.

Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết

Căn cứ vào các nguyên tắc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng, từ đó có thể thấy vợ chồng có quyền lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận hoặc theo luật định, việc lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận là quyền tự do của hai vợ chồng...

Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận có tính đa dạng, phong phú, tạo điều kiện thuân lợi cho sự lựa chọn của các cặp vợ chồng, đồng thời, việc vợ chồng cùng nhau thỏa thuận lựa chọn một chế độ tài sản hợp lý chính là bước cụ thể hóa nguyên tắc công dân có quyền..

Căn cứ điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 7 Luật Hộ tịch năm 2014 thì việc kết hôn phải được đăng ký tại Ủy ban Nhân dân cấp xã đối với công dân có quốc tịch Việt Nam và Ủy ban Nhân dân cấp Huyện đối với trường hợp đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài.

Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân....

Khi vợ hoặc chồng cảm thấy hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì có quyền yêu cầu ly hôn và việc này không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên khi phân chia tài sản.

Về nguyên tắc khi ly hôn thì chia tài sản sẽ do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì: Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung; Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng...

Những tài sản của vợ/chồng có được trước khi kết hôn là tài sản riêng của vợ/chồng và chỉ được coi là tài sản chung khi có sự thỏa thuận của hai bên hoặc khi tài sản chung không đủ để đảm bảo đời sống vợ chồng thì tài sản riêng mới được đem vào sử dụng.

Về nguyên tắc, tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân của hai vợ chồng, khi ly hôn sẽ do hai bên thỏa thuận về việc phân chia tài sản và Tòa án sẽ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên mà không có sự can thiệp của bên thứ ba,

Tài sản chung của vợ chồng được chia theo thỏa thuận của các bên, nếu không có thỏa thuận thì Tòa án sẽ phân chia tài sản chung của vợ chồng dựa trên nguyên tắc chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:...

Khi ly hôn tài sản của vợ chồng sẽ được chia theo thỏa thuận của các bên và pháp luật không có quy định về nguyên tắc thỏa thuận buộc các bên phải tuân thủ. Tuy nhiên, nếu hai bên không thảo thuận được về tài sản thì Tòa án sẽ tiến hành phân chia tài sản ...

Khi tiến hành thủ tục ly hôn và phân chia tài sản cho hai bên vợ chồng anh/chị, các con của anh/chị hoàn toàn không có quyền kiện đòi tài sản đó vì nó thuộc sở hữu riêng của hai vợ chồng anh chị.

Nếu chồng chị không chứng minh được là tài sản riêng của mình thì số tiền trong tài khoản đó sẽ được xác định là tài sản chung vợ chồng. Khi đó, chị hoàn toàn có quyền gửi đơn khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu chia tài sản chung

Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây: hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung.

Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác.

Vấn đề chia tài sản chỉ đặt ra giữa hai bên vợ và chồng- chủ sở hữu của tài sản. Có nghĩa là con không được chia tài sản và không có quyền yêu cầu chia tài sản trong trường hợp này. Tuy nhiên, việc chia tài sản của vợ chồng phải đảm bảo việc bảo vệ quyền và lợi ích...

Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác...

Trường hợp các bên đương sự tự thỏa thuận phân chia tài sản chung trước khi mở phiên tòa và yêu cầu Tòa án ghi nhận trong bản án thì phải chịu 50% mức án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia;

Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu 50% mức án phí. Trường hợp có yêu cầu về chia tài sản thì...

Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp cả hai thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa án phí sơ thẩm

Khi tiến hành phân chia tài sản sau ly hôn, Tòa án sẽ quyết định phần tài sản mà mỗi bên sẽ được hưởng dựa trên những yếu tố sau: hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, và duy trì khối tài sản chung...