Quy định về giải quyết hậu quả của việc nam , nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn?

Căn cứ điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 7 Luật Hộ tịch năm 2014 thì việc kết hôn phải được đăng ký tại Ủy ban Nhân dân cấp xã đối với công dân có quốc tịch Việt Nam và Ủy ban Nhân dân cấp Huyện đối với trường hợp đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài.

Căn cứ điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 7 Luật Hộ tịch năm 2014 thì việc kết hôn phải được đăng ký tại Ủy ban Nhân dân cấp xã đối với công dân có quốc tịch Việt Nam và Ủy ban Nhân dân cấp Huyện đối với trường hợp đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài. Như vậy, đăng ký kết hôn là nghi thức kết hôn duy nhất là phát sinh quan hệ vợ chồng. Chỉ khi nào cơ quan đăng ký kết hôn đăng ký việc kết hôn cho đôi nam, nữ ghi vào sổ đăng ký và trao giấy chứng nhận kết hôn thì giữa họ mới phát sinh quan hệ vợ chồng .

Để giải quyết hậu quả của việc nam , nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau :

Nam , nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền , nghĩa vụ giữa vợ và chồng . Quyền , nghĩa vụ đối với con , tài sản , nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16. Cụ thể :

Vì chỉ sống chung với nhau mà không hề đăng ký kết hôn cho nên sẽ không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, kéo theo đó sẽ không cần phải làm thủ tục ly hôn khi không muốn chung sống với nhau nữa.

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Còn quyền, nghĩa vụ đối với con và tài sản giữa các bên sẽ được giải quyết như sau:

Quyền và nghĩa vụ đối với con:

“ Điều 15 . Quyền , nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam , nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Quyền , nghĩa vụ giữa nam , nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền , nghĩa vụ của cha mẹ và con .”

Việc anh chị không đăng ký kết hôn sẽ không làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của hai bên đối với con cái. Quyền và nghĩa vụ của nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng đối con cái sẽ được giải quyết như trường hợp vợ chồng hợp pháp ly hôn. Theo đó, khoản 2, khoản 3 điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

“2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

Trường hợp không thỏa thuận được thì:

+) Đối với bé trai (4 tuổi) sẽ được giao cho một bên trực tiếp nuôi, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Thông thường, Tòa án sẽ xem xét các điều kiện sau:

Điều kiện về vật chất: Ăn, ở, sinh hoạt, điều kiện học tập…các yếu tố đó dựa trên thu nhập, tài sản, chỗ ở của cha mẹ.

Điều kiện về tinh thần: Thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm đã dành cho con từ trước đến nay, điều kiện cho con vui chơi giải trí, nhân cách, đạo đức, trình độ học vấn.. của cha mẹ.

+) Đối với bé gái 1 tuổi sẽ được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Quyền và nghĩa vụ đối với tài sản chung

“ Điều 15 . Quyền , nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam , nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Quyền , nghĩa vụ giữa nam , nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền , nghĩa vụ của cha mẹ và con .”

“Điều 16 . Giải quyết quan hệ tài sản , nghĩa vụ và hợp đồng của nam , nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn 1 . Quan hệ tài sản , nghĩa vụ và hợp đồng của nam , nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên ; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác pháp luật có liên quan . . . 2 . Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền , lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con ; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập ” .

Như vậy, đối với tài sản chung hai bên có thể tự thỏa thuận chia tài sản. Trong trường hợp không có thỏa thuận thì sẽ được giải quyết theo điều 219 Bộ luật dân sự 2015:“Điều 219. Chia tài sản thuộc sở hữu chung 1. Trường hợp sở hữu chung có thể phân chia thì mỗi chủ sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung; nếu tình trạng sở hữu chung phải được duy trì trong một thời hạn theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của luật thì mỗi chủ sở hữu chung chỉ có quyền yêu cầu chia tài sản chung khi hết thời hạn đó; khi tài sản chung không thể chia được bằng hiện vật thì chủ sở hữu chung có yêu cầu chia có quyền bán phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp các chủ sở hữu chung có thỏa thuận khác. 2. Trường hợp có người yêu cầu một người trong số các chủ sở hữu chung thực hiện nghĩa vụ thanh toán và chủ sở hữu chung đó không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thanh toán thì người yêu cầu có quyền yêu cầu chia tài sản chung và tham gia vào việc chia tài sản chung, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Nếu không thể chia phần quyền sở hữu bằng hiện vật hoặc việc chia này bị các chủ sở hữu chung còn lại phản đối thì người có quyền có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ bán phần quyền sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ thanh toán.”

Trong trường hợp nam , nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định nêu trên nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn .

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình (nêu trên) được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật:1900 6198, E-mail:info@everest.net.vn.