Người già muốn ly hôn, có cần yêu cầu tòa án giải quyết?

Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/1/1987 (ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực) mà chưa đăng ký kết hôn, nếu một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì toà án thụ lý vụ án ...

Hỏi: Tôi và vợ về ở với nhau đã gần 30 năm nhưng không đăng ký kết hôn. Đề nghị Luật sư tư vấn, đến nay do mâu thuẫn gia đình, tôi muốn ly hôn với bà ấy thì có cần làm đơn đến tòa yêu cầu giải quyết không? (Phạm Quốc Doanh - Bình Phước)
 >>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Bùi Ánh Vân - Tổ tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình của Công ty Luật TNHH Everest trả lời:

Theo khoản 1 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03 tháng 1 năm 2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/06/2000 của Quốc hội về việc thi hành luật hôn nhân và gia đình năm 2000:

"Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/1/1987 (ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực) mà chưa đăng ký kết hôn, nếu một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì toà án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung.

Cần chú ý, trong trường hợp sau khi quan hệ vợ chồng đã được xác lập họ mới thực hiện việc đăng ký kết hôn thì quan hệ vợ chồng của họ vẫn được công nhận kể từ ngày xác lập (ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng), chứ không phải là chỉ được công nhận kể từ ngày đăng ký kết hôn".

Hiện nay, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đang có hiệu lực thi hành, theo quy định tại khoản 1 Điều 131: “Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập trước ngày Luật này có hiệu lực thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết”.

Như vậy, trong trường hợp của anh, vợ chồng chung sống với nhau từ trước năm 1985 mà không có Giấy đăng ký kết hôn, theo hướng dẫn tại khoản 1 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP và quy định của Luật Hôn nhân gia đình 2014, anh vẫn có quyền yêu cầu ly hôn.

Tòa án sẽ thụ lý và giải quyết theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cho phép tòa thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, anh có thể gửi trực tiếp đơn yêu cầu ly hôn đến Tòa án cấp huyện nơi chồng anh cư trú, làm việc hoặc gửi theo đường bưu điện. Khi gửi đơn yêu cầu ly hôn, anh cần gửi kèm những tài liệu, chứng cứ về việc giải quyết ly hôn bao gồm:

- Sổ hộ khẩu, Chứng minh nhân dân của vợ, chồng (bản sao có chứng thực);

- Giấy khai sinh của con (bản sao có chứng thực - nếu có);

- Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung như: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ; Đăng ký xe; sổ tiết kiệm… (bản sao có chứng thực);

Điều 89, 91 quy định:

- Toà án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì toà án quyết định cho ly hôn.

- Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị toà án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì toà án giải quyết cho ly hôn.

- Ly hôn theo yêu cầu của một bên khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hoà giải tại toà án không thành thì toà án xem xét, giải quyết việc ly hôn.

Theo những quy định trên, tòa án sẽ tiến hành hòa giải, nếu không thành sẽ xem xét những căn cứ về tình trạng hôn nhân trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được để quyết định ly hôn.

Tóm lại, trường hợp của vợ chồng anh chung sống với nhau từ năm 1985 nhưng không có Giấy đăng ký kết hôn thì tòa án vẫn công nhận hai anh là vợ chồng và giải quyết cho hai anh ly hôn theo thủ tục ly hôn quy định tại Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 khi có yêu cầu ly hôn.

Khuyến nghị:
  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: info@luatviet.net.vn.
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.